TH10-CHIII-Bài 14. Khái niệm về soạn thảo văn bản (phần 2)

· Tin học, Tin học 10

Chương III Soạn thảo văn bản

Bài 14. Khái niệm về soạn thảo văn bản 3 (2, 0, 1)

B. Những điểm cần lưu ý và gợi ý khi dạy học (tiếp)

2. Phần hai “Một số quy ước trong việc gõ văn bản” là một phần quan trọng, gồm hai nội dung chính:

  • Các đơn vị xử lí trong văn bản;
  • Một số quy ước trong việc gõ văn bản.

Việc chính xác hóa đơn vị xử lí trong văn bản là rất cần thiết, vì nhiều khái niệm của hệ soạn thảo văn bản HS học ở các bài sau liên quan đến các đơn vị xử lí này. Chẳng hạn, tại sao khi xuống dòng trong một đoạn văn thì không dùng phím Enter (khái niệm đoạn văn bản – paragraph) hay định dạng trang thì liên quan đến trang văn bản chứ không phải trang màn hình.

Ngày nay, chúng ta tiếp xúc nhiều với các văn bản được gõ trên máy tính, trong số đó cũng có những văn bản không tuân theo các quy ước chung của việc soạn thảo, gây ra sự không nhất quán và thiếu tôn trọng người đọc. Một yêu cầu quan trọng khi bắt đầu học soạn thảo văn bản là phải tôn trọng các quy định chung này, để văn bản soạn thảo ra được nhất quán và khoa học. Trong các quy định chung đó, có thể chia thành các loại:

a) Thói quen trình bày (đặt các dấu chấm, phẩy, chấm phẩy, chấm hỏi, chấm than,… sát vào từ đằng trước). Thật ra trong một số văn bản chúng ta có thể thấy rằng một số dấu câu, chẳng hạn dấu chấm hỏi, chấm than đứng cách từ đằng trước đúng một kí tự trống, chủ yếu vì lí do thẩm mĩ. Nhưng do không có cơ chế kiểm soát, nêu đôi khi xảy ra là toàn bộ câu ở dòng trên, còn dấu ngắt câu thì xuống dòng dưới. Nếu tuân thủ quy ước gõ các dấu này sát từ đứng trước, thì những trường hợp như vậy sẽ không xảy ra. Còn nếu quy ước để cách một kí tự trống thì người soạn thảo phải tự mình kiểm soát để dấu ngắt câu luôn cùng hàng với câu (bằng cách co hoặc giãn chữ chẳng hạn). Tuy nhiên, ngay cả khi đã chú ý tới điều này thì khi văn bản bị sửa chữa, các dấu ngắt câu vẫn có thể bị thay đổi vị trí.

b) Tính khoa học trong khi soạn thảo: Những công việc trình bày văn bản thông dụng nhất đều có các công cụ thực hiện trong hệ soạn thảo văn bản. Chẳng hạn, để lùi dòng thứ nhất của đoạn văn vào một khoảng trắng, chúng ta có định dạng dòng đầu tiên (First Line). Sở dĩ không dùng các kí tự trống để lùi dòng đầu tiên (mặc dù cũng cho hiệu quả như vậy) bởi vì, thứ nhất làm như vậy mất thời gian hơn, thứ hai không đảm bảo đoạn nào cũng lui vào một số kí tự trống giống nhau.

Một ví dụ nữa: Mọi hệ soạn thảo văn bản đều tự động thực hiện việc xuống dòng và người gõ văn bản nhấn phím Enter khi kết thúc đoạn văn, để báo cho hệ soạn thảo biết và thực hiện các định dạng đoạn văn theo ngầm định. Bởi vậy, người soạn thảo văn bản cần tuân thủ điều này, không nhấn phím Enter khi chưa kết thúc đoạn văn, để việc trình bày được nhất quán,…

Liên quan đến việc xuống dòng tự động, có thể HS sẽ hỏi bằng cách nào hệ soạn thảo văn bản căn thẳng được các lề khi xuống dòng, nhất là với các ngôn ngữ có từ tương đối dài (mà Tiếng Anh là một ví dụ). Hệ soản thảo xử lí bằng cách tự động tách giữa từ khi cần xuống dòng. Cơ chế này gọi là Hyphenation. Tuy nhiên, tiếng Việt là đơn âm tiết, nên các từ tương đối ngắn và việc xuống dòng không phải dùng tới hyphenation (ngắt giữa từ).

Những điều trên nếu cần thiết GV có thể giải thích để HS hiểu sâu sắc hơn lí do của những quy định (mà mới thoạt qua có thể thấy là những “bắt bẻ” vô lí) trong các hệ soạn thảo văn bản.

 

 

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: