TH10-CHIII-Bài 14. Khái niệm về soạn thảo văn bản (phần 3)

· Tin học, Tin học 10

Chương III Soạn thảo văn bản

Bài 14. Khái niệm về soạn thảo văn bản 3 (2, 0, 1)

B. Những điểm cần lưu ý và gợi ý khi dạy học (tiếp)

3. Trong phần thứ ba “Chữ Việt trong soạn thảo văn bản”, HS được trang bị những hiểu biết ban đầu về:

  • Các công đoạn xử lí chữ Việt trên máy tính;
  • Các khái niệm cơ sở: chương trình gõ, bộ mã, bộ phông chữ;
  • Gõ chữ Việt theo một trong hai cách thông dùng (TELEX hoặc VNI)

GV nên bắt đầu bằng việc cho  HS tự tìm hiểu sự thiếu vắng của một số nguyên âm Tiếng Việt và đặc biệt là các dấu thanh trên bàn phím máy vi tính để thấy rằng bàn phím máy vi tính được chế tạo không phải để gõ Tiếng Việt. Do đó, chúng ta phải trang bị thêm các phần mềm thì mới có thể gõ Tiếng Việt.

Do không có thời gian nên các khái niệm này chỉ được giới thiệu một cách sơ lược, tuy nhiên nếu HS hỏi thêm thì GV cũng có thể giải thích sâu hơn.

Trước tiên, muốn sử dụng bàn phím máy tính (vốn chỉ thùa bộ chữ cái Tiếng Anh và không có các chữ đặc thù của Tiếng Việt như ă, â, ơ, ử,… cũng như các dấu thanh) để soạn thảo Tiếng Việt, cần có một phần mềm để máy tính nhận biết việc gõ chữ Việt. Phần mềm gõ này được gọi chung là chương trình gõ hay bộ gõ. Chẳng hạn, nhờ có chương trình gõ mà khi chúng ta gõ hai chữ e liên tiếp (ee) theo kiểu TELEX, máy nhận biết chữ cái “ê” của tiếng Việt, hay khi gõ chữ à và phím số 1 (a1) theo kiểu VNI, máy nhận biết chữ cái a và dấu sắc (ắ) của tiếng Việt,…

Ta cũng biết rằng bên trong máy, dữ liệu được biểu diễn dưới dạng bit. Chương trình gõ sẽ đặt tương ứng (các) kí tự ta gõ vào với một dãy bit trong máy biểu diễn cho một kí tự duy nhất. Như vậy chương trình gõ phải dựa vào một bảng mã nhất địnhi.

Trong bảng chữ Tiếng Việt, mỗi nguyên âm mang dấu thanh (như ă, ắ, ằ, ẳ, ẵ, ặ,…) cũng gần được coi như một kí tự và như vậy tổng số các kí tự cần có đẻ hiển thị tất cả các chữ Tiếng Việt (chữ thường chữ hoa) là 134.

Bảng mã ASCII chuẩn (bảng mã duy nhất được dùng cho tới gần đây) là bảng mã 8 bit, có thể mã hóa cho 256 (=28) kí tự, tuy nhiên ngoài 128 kí tự cơ bản chỉ còn lại 128 kí tự mở rộng dùng cho chữ Việt. Do vậy, một số kí tự trong số các kí tự cơ bản của bảng mã ASCII phải thay thế để dùng cho chữ Việt. Việc định nghĩa mã ASCII nào cho kí tự chữ Việt nào phụ thuộc vào từng bảng mã. Từ đây phát sinh những phiền toái khi cùng một lúc tồn tịa nhiều bảng mã Tiếng Việt khác nhau. Điều này làm cho việc trao đổi thông tin giữa các máy tinh gặp rất nhiều khó khăn. Văn bản chữ Việt soạn từ máy tính này gửi sang máy tính khác có thẻ không hiển thị đúng do việc các phần mềm soạn thảo dùng các bộ mã và phông chữ khác nhau.

Tình hình này đang được cải thiện khi chúng ta chuyển sang dùng bộ mã Unicode 16bit thống nhất và mọi phần mềm đều hỗ trợ cho bộ mã này. Bộ mã Unicode dùng cho mọi hệ máy tính, cho mọi chương trình và cho mọi ngôn ngữ. Unicode đang ngày càng được dùng phổ biến trên thế giới, nhất là cho những hoạt động xử lí thông tin toàn cầu như thương mại điện tử (E-commerce), học tập điện tử (E- learning) hay chính phủ điện tử (E-government),…

Trong SGK có đưa ra các cách gõ kí tự có dấu trong tiếng Việt theo kiểu TELEX và VNI. HS cần phải học thuộc một trong hai kiểu gõ này trước khi bắt đầu thực hành soạn thảo trên máy và sẽ thành thạo dần khi thực hành cụ thể.

Giờ bài tập đầu tiên có nhiều mục tiêu, trước tiên dành để khắc sâu cho HS các khái niệm chung về hệ soạn thảo văn bản. GV có thể thiết kê tiết dạy này theo hướng đổi mới phương pháp, cụ thể là chia lớp thành các nhóm để thảo luận về các câu hỏi được nêu ra, rồi mỗi nhóm cử một đại diện trình ày trước lớp quan điểm của nhóm mình.

GV lưu ý HS, để có thể soạn thảo, hiển thị và in ấn văn bản chữ Việt, trên máy tính cần có chương trình gõ chữ Việt (với chức năng gõ chữ Việt đang bật) và bộ phông chữ Việt. Điều này tránh cho các em khỏi bởi ngỡ khi bắt tay vào thực hành.

Một điều cũng rất quan trọng là HS phải học thuộc lòng một trong hai kiểu gõ chữ Việt, để hỗ trợ điều này, tốt nhất là GV chuẩn bị sơ đồ kiểu gõ phóng to theo trước lớp. Các bài tập chuyển đổi từ nhóm kí tự gõ theo TELEX (hoặc VNI) sang cụm từ tiếng Việt tương ứng và ngược lại cũng rất có ích.

%(count) bình luận

Comments RSS
  1. Anh tuan nguen

    Thay oi cho em lam thanh vien voi ok

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: